Bản dịch của các thi hữu
Nhạc: Mai Ðức Vinh
Tình Ca Mai Ðức Vinh
Phổ Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc Nguyễn Đăng Tuấn
Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc: MaiĐứcVinh, HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy, MinhThao, PhạmAnhDũng, NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Nhạc Mai Đức Vinh
Ca sĩ Bảo Yến trình bày

Article Index

 Thơ Đường là một sản phẩm vô giá, một nghệ thuật trác tuyệt của nền văn hóa phương Đông, là một đỉnh cao sáng chói và thành tựu rực rỡ của nền văn học thi ca Trung Quốc. Thơ Đường chan chứa tình người, tình đời, tình đạo, có giá trị nhân bản cao, thấm đượm những tư duy thâm thúy và mẫn cảm của con người trước thế sự thăng trầm, thời cuộc điên đảo, tâm lý xã hội phức tạp. Những bài thơ Đường với những hình tượng sáng sủa, tình ý sâu sắc, đã biểu lộ những rung động chân thành của trái tim con người trước thiên nhiên vũ trụ, xã hội và gia đình, tình yêu, tình bạn v.v… Một bài thơ Đường chỉ thu hẹp hạn chế trong một số chữ theo đúng niêm luật, nhưng đã tạo nên một sự hài hòa tương xứng về âm thanh, hình ảnh và nỗi lòng … đã có một sức truyền cảm tuyệt vời, tạo một sự quyến rũ vô cùng. 

 Bước vào thế giới Đường Thi như đi lạc vào khu rừng trùng trùng điệp điệp đầy kỳ hoa dị thảo, hương sắc muôn màu, càng đọc, càng suy tư, càng thấm thía và say mê… Học giả Trần Trọng San đã viết rằng: "Tôi bước vào cảnh giới Đường Thi từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc. Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường mà gia nghiêm đã dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời.". Học giả Kiều Văn đã nhận xét rằng: "Nhiều câu thơ Đường đã trở thành câu nói cửa miệng nhân gian như:- Mạc sử kim tôn không đối nguyệt
(Dưới vầng trăng đừng để chén không)
-Nhân sinh thất thập cổ lai hi
(Người thọ bảy mươi xưa nay hiếm)
-Thiên sinh ngã tài tất hữu dụng
(Trời sinh tài ta, tất được dùng)
-Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản
(Hạc vàng một đi không trở lại)" Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản" … Hạc Vàng đã bay đi về một khung trời miên viễn nào đó …. nhưng Hoàng Hạc Lâu mãi mãi đã để lại một âm vang kỳ diệu, một hình ảnh sống động, một suy tư trầm bổng khôn nguôi trong lòng người đọc …
NGUYÊN VĂN BÀI THƠ:Hoàng Hạc Lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu!

Thôi Hiệu

 
ĐÔI GIÒNG VỀ THI SĨ THÔI HIỆU ( Ts'ui Hao , Cui Hao):

Thi sĩ Thôi Hiệu ( 704? – 754) người Biện Châu ( hiện nay là huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam), đậu Tiến Sĩ niên hiệu Khai Nguyên (725, đời Đường Huyền Tông), làm đến chức Tư-huân viên-ngoại-lang. Thi sĩ Thôi Hiệu có bản tính lãng mạn, nhiều lần kết hôn và ly dị. Cùng thời với Vương Duy, ông gia nhập nhóm văn đoàn Kỳ Vương Lý Phạm. Thơ Thôi Hiệu phóng khoáng, tao nhã. Hai bài nổi tiếng của ông là khúc nhạc phủ Trường Can Hành và bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã đưa ông lên đỉnh cao sáng chói của nghệ thuật thơ Đường.

GHI CHÚ CÁC ĐỊA DANH:

Hoàng Hạc Lâu: Lầu Hạc Vàng ở đầu cầu Vũ Xương, phía Tây Bắc phủ Vũ Xương, tỉnh Hồ Bắc, bên sông Trường Giang.
Hán Dương: huyện Hán Dương thuộc tỉnh Hồ Bắc, ở phía nam sông Hán Thủy thành phố Vũ Hán ngày naỵ
Anh Vũ châu: cồn Anh Vũ giữa sông Trường Giang, phía bắc lầu Hoàng Hạc, phía Tây Nam thành phố Vũ Hán

TRUYỀN THUYẾT VÀ KIẾN TRÚC LẦU HOÀNG HẠC:

Theo sách Hoàn Vũ Ký, Phí Hôi từ lầu nầy cưỡi hạc vàng đi tu tiên. Sách Tề Hài Chí thì ghi Vương Tử An thành tiên cưỡi hạc vàng bay ngang lầu nầy. Sách Nguyên Hòa Chí thì ghi lầu nầy được dựng trên mỏm đá có tên Hạc Vàng.
Theo truyền thuyết, khu đất lầu Hoàng Hạc cổ xưa vốn là một quán rượu của một người tên Tân. Một hôm có một vị thiền sư theo Lão Giáo ghé quán nầy nghỉ chân, và được chủ quán mời rượu không tính tiền. Để đền ơn chủ quán, vị thiền sư vẽ hình một con hạc vàng lên bờ tường và khi vỗ tay khi con hạc nhảy múa rất đẹp mắt. Từ khi có hiện tượng kỳ lạ nầy, quán rượu thu hút rất nhiều khách thập phương và vị chủ quán trở nên giàu có. Khoảng 10 năm sau, vị thiền sư trở lại thăm quán rượu, lần nầy vị thiền sư thổi sáo và sau đó vỗ tay gọi cánh hạc bay ra và cưỡi lưng hạc về trời. Để ghi nhớ cảnh tượng kỳ lạ và cơ duyên trong việc gặp gỡ vị thiền sư huyền bí nầy, người chủ quán giàu có gọi nhân công xây một căn lầu gọi tên là Hoàng Hạc Lâu (lầu Hoàng Hạc). Theo sử liệu ghi chép thì lầu Hoàng Hạc được xây vào năm 223 (AD) sau Công Nguyên . Sau khi hoàn thành xong thì lầu Hoàng Hạc là nơi các vị hoàng tộc triều đình và các văn thi sĩ, tao nhân mặc khách thường lui tới chốn nầy để ngắm cảnh và làm thơ. Theo tài liệu văn học Trung Quốc thì có khoảng 300 bài thơ tả cảnh lầu Hoàng Hạc, nhưng chỉ có bài thơ của Thi Sĩ Thôi Hiệu là xuất sắc nhất, phổ thông nhất, có giá trị nghệ thuật vượt không gian và thời gian, được lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
Lầu Hoàng Hạc nguyên thủy được làm bằng gỗ, sau khi bị hỏa hoạn nhiều lần, lầu được trùng tu lại nhiều lần. Công việc trùng tu được bắt đầu từ năm 1981, và hoàn thành năm 1985, và cũng trong năm này được mở ra cho công chúng vào thăm viếng. Hoàng Hạc Lâu nguyên thủy là một kiến trúc bằng gỗ chạm trổ gồm ba tầng, ở trên đỉnh bằng đồng. Lầu Hoàng Hạc ngày nay trông lộng lẫy hơn, gồm năm tầng, cao 51.4 mét (cao hơn kiến trúc cũ 20 mét). Tầng thấp nhất có kích thước 20 mét mỗi bề (lầu cũ chỉ có 15 mét), nên du-khách biết ngay đây là một kiến trúc xây lại hoàn toàn mới, chứ không phải tu bổ từ căn lầu cũ. Tuy lầu Hoàng Hạc mới được xây lại dựa trên quan điểm thẩm mỹ hiện đại và kỹ thuật kiến trúc tân thời, nhưng vẫn còn giữ lại những đặc tính văn hóa và nét đẹp cổ truyền của lầu Hoàng Hạc cổ xưa.
Lầu Hoàng Hạc đã được nhiều thi-văn-sĩ đến thăm viếng cảnh và đề thơ. Học giả Trần Trọng San đã ghi chép: "Trong số những câu đối đề lầu Hoàng Hacï, câu sau nầy được coi là hay nhất, vì có tình thú đậm đà, dùng được nhiều chữ trong thơ xưa liên hệ với lầu nầy, miền nầy:

Hà thời hoàng hạc trùng lai, thả cộng đảo kim tôn, kiêu châu chử thiên niên mậu thảo;
Đản kiến bạch vân phi khứ, dữ thùy xuy ngọc địch, lạc giang thành ngũ nguyệt mai hoa.Bao giờ hạc vàng trở lại, hãy cùng rót chén vàng, tưới cỏ tươi ngàn năm trên bãi;
Chỉ thấy mây trắng bay đi, với ai thổi sáo ngọc, mai tháng năm rụng xuống thành sông."


DỊCH NGHĨA BÀI HOÀNG HẠC LÂU CỦA THÔI HIỆU:

Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay mất rồi
Nơi đây chỉ còn lại lầu Hạc vàng hoang vắng
Hạc vàng một lần bay đi không thấy trở về
Mây trắng ngàn năm cứ mãi trôi hoài
Bên sông tạnh cây cối miền Hán Dương tươi sáng
Bãi Anh Vũ cỏ tươi mơn mởn ngát thơm hương
Chiều tối không biết quê nhà ở đâu?
Khói sóng trên sông làm lòng người sầu vương

DỊCH THƠ:

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã được rất nhiều nhà chuyên khảo Hán Học uyên bác, các học giả tiền bối Việt Nam, và các thi sĩ say mê Đường Thi dịch với những bản dịch trác tuyệt, phong phú và tài hoa. Mỗi dịch giả có một phong cách sáng tạo và cách dịch thâm thúy khác nhau dưới các khía cạnh thưởng ngoạn đa dạng với những nhận thức tinh tế, những cảm xúc nghệ thuật và rung động thẩm mỹ muôn chiều khi đọc, ngâm, vịnh một bài thơ Đường. Các bản dịch của các học giả và thi-sĩ muôn phương đã được ghi chép ở cuối bài… đó chính là những tài liệu tham khảo quí giá, là khuôn vàng thước ngọc cho bài sưu khảo nầy… Sau đây là hai bản dịch của tác giả:

Lầu Hạc Vàng

1-
Người xưa cưỡi hạc vút xa đây
Hoàng Hạc lầu trơ quạnh chốn nầy
Một thuở hạc vàng hun hút khuất
Ngàn năm mây trắng lững lờ bay
Hán Dương sông tạnh cây tươi thắm
Anh Vũ đồng thơm cỏ mịn dày
Chiều phủ quê xa mù mịt bóng
Sông vờn khói sóng não nề thay!

2-
Người xưa theo cánh hạc vàng
Vút bay thăm thẳm, bẽ bàng lầu thơ
Thoắt đi cánh hạc xa mờ
Mênh mang mây trắng thẫn thờ luyến thương
Cây xanh vờn bãi Hán Dương
Cỏ thơm Anh Vũ lộng hương bốn bề
Chiều buông phủ lạnh bóng quê
Chập chùng khói sóng thảm thê khách sầu

Hải Đà phỏng dịch

VÀI CẢM NGHĨ VỀ BÀI HOÀNG HẠC LÂU:

Hoàng Hạc Lâu là một bài thơ vịnh cảnh đặc sắc phong phú, man mác một vẻ hoài cổ ung dung tự tại, mang lại một mối sầu tiếc luyến thương bâng khuâng, cho người đọc cảm thức một vũ trụ huyền vi với những hình ảnh quyến rũ tuyệt vời, xen lẫn những chiêm nghiệm về cuộc sống đời thường trong một vũ trụ mênh mang bát ngát. Vũ trụ trong bài thơ được xem như một căn bản, một nền tảng tồn tại cho một tâm thức cá thể, để con người phải suy tư trầm ngâm đi tìm nguồn cội, nơi chốn để trở về, điểm cuối cùng của đời người: một quê cha đất tổ muôn vàn yêu dấu …
Theo sách "Thương lang thi thoại", Nghiêm Vũ đời Nam Tống đã nói rằng " Đường nhân thất ngôn luật thi, đương dĩ Thôi Hiệu Hoàng Hạc Lâu đệ nhất" (Thơ niêm luật đời Đường bảy chữ, phải xếp bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu vào hạng nhất). Hoàng Hạc Lâu đã đưa Thôi Hiệu lên đỉnh cao sáng chói của thi-văn-đàn Trung Quốc. Đó là một bài thơ đã nói lên cái ý thức gia-tộc, quê hương rất xúc tích tràn trề, đã đưa cảm quan con người từ một sinh vật nhỏ bé, ở một nơi chốn không gian thu hẹp: từ một lầu cao có tên Hoàng Hạc phóng tầm mắt ra xa vạn dặm đến tận độ vô cùng vô thủy vô chung … từ nơi đó đưa trí tưởng con người về một khung trời vạn cổ xa xăm: vũ trụ đã trở thành biểu trưng của tâm hồn người thơ … Từ nơi chốn miên viễn đó đã tạo nên một truyền thuyết mang sắc thái huyền bí, một khung cảnh thần tiên, một ý niệm thiêng liêng … Lầu Hoàng Hạc được xây trên một địa điểm cao có thể nhìn chung quanh bốn phương trời lồng lộng và nhìn xuống dưới là dòng sông Dương Tử trong tỉnh Hồ Bắc. Nước sông cuồn cuộn chảy theo hướng đông để nhập vào biển cả bao la … gây một cảm giác chia ly ngăn cách … cái cảm giác đó đã được nhà thơ biểu lộ trong hai câu đầu tiên:

Người xưa cưỡi hạc vút xa đây
Hoàng Hạc lầu trơ quạnh chốn nầy

Người Thơ đã tự nhìn mình như một người khách lạ, một cõi riêng ta, dưới cái cái cảm quan của một khách thể, đưa bản ngã hòa đồng vào đại ngã của một vũ trụ mênh mông bát ngát, một cõi hư vô bàng bạc … Người xưa đã cưỡi hạc bay về đâu, ở nơi chốn nào, người thơ chỉ cảm nhận điều đó ở trong nội tâm thầm kín và thăm thẳm, mà không tìm hiểu, và chỉ biết cái hiện hữu là lầu cao nơi người thơ đang phóng tầm mắt nhìn bốn phương trời vô định chỉ còn là sự trống trãi trơ trọi bơ vơ giữa vũ trụ muôn trùng. Hạc vàng đã bay đi khuất rồi, nhìn lên bầu trời quang tạnh chỉ còn thấy vầng mây trắng lững lờ lặng lẽ trôi mãi ngàn năm … một cảm giác lênh đênh, một nỗi cảm khái dâng tràn, một cảm quan xao xuyến bồn chồn ngập tràn tâm hồn của người thơ, để từ cái nơi chốn không gian bao la đó, bỗng chiêm nghiệm và cảm thụ rằng có một mối liên quan mật thiết giữa con người – một sinh vật yếu đuối nhỏ bé – với một không gian mênh mông trùng điệp trong vũ trụ huyền vi biến hóa khôn lường… để từ đó cảm nhận được sự tương giao, tương hợp giữa tiên hạc trên trời và chuyện con người, sự sống, và đời thường:

Một thuở hạc vàng hun hút khuất
Ngàn năm mây trắng lững lờ bay

Hạc vàng và mây trắng: hai hình ảnh và màu sắc tương phản. Hạc trắng tượng trưng cho thiền nhân ẩn sĩ, triết lý vô vi, và hình tượng bất tử. Mây trắng là biểu tượng của trinh bạch, tinh khiết, thư thái và yên tĩnh, và là cảm hứng thôi thúc cho con người trầm mặc, suy tư và thiền định . Hạc là loài chim có ý thức bay đi, còn mây là vật vô tri lơ lửng trong không gian mà hướng đi không chủ định. Bài thơ đã gợi ý vầng mây trắng bay đi vào quá khứ vô tận, có lẽ vì sự "bất tử" không còn hiện hữu ở nơi chốn đó nữa, hoặc có lẽ sẽ không có một sự "bất tử" nào khác có thể thay thế được . Hạc và mây gợi nên một ý tưởng ly biệt, phân cách, cánh hạc sẽ bay đi bay mãi bỏ lại vầng mây trắng huyền ảo lơ lửng giữa bầu trời thăm thẳm … Từ cái sự ly biệt đó, nhà thơ đã đưa người đọc về lại cái thực tế hiện hữu của con người, đó là cái không gian có cuộc sống, có không khí, hơi thở của con người, có sự tồn tại của thiên nhiên, cây cỏ, sông núi, của những nơi chốn ngập tràn ánh dương và ngào ngạt hương sắc, đã tạo ra một hình ảnh sống động tương giao trong vũ trụ, đem lại sức mạnh lâng lâng gợi cảm vô hình …Hán Dương sông tạnh cây tươi thắm
Anh Vũ đồng thơm cỏ mịn dày

Cái hình ảnh tươi mát "cỏ thơm mịn dày" = "phương thảo thê thê" = fragrant grass rich-thick , ở bãi Anh Vũ, đã giống ý từ trong một bài nhạc phủ Trung Hoa, Chiêu ẩn sĩ trong Sở từ có nội dung " khi chàng đi chơi xa chưa về, trời đã sang xuân cỏ thơm mơn mởn và xanh ngát …" (Vương tôn du hề bất quy, xuân thảo sinh hề thê thê ) đó là hình ảnh cụ thể có màu sắc tươi mát và sống động, nhưng hình ảnh đó lại trớ trêu, lạ lùng không đúng chỗ và không hài hòa với những đặc điểm chung quanh, vì cỏ xanh biểu tượng cho một mùa xuân vui tươi hạnh phúc, mà nhà thơ lại gợi nhớ đến sự chia ly .. (It is customary to associate apparently incongruous description of scenery with narrative lines in Chinese to achieve greater colour and concreteness, but there can be irony in the association as there is here when spring, a glad time, recalls parting - Wayne Schlepp). Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng cùng một từ ngữ Trung-Hoa, phát âm giống nhau nhưng lúc viết khác nhau và cũng có hai nghĩa khác biệt (đồng âm dị nghĩa), như chữ "thê thê" có nghĩa là xanh tươi, mơn mởn, nhưng còn có nghĩa là lạnh buốt, buồn bã (khi phát âm)
Từ những hình ảnh mơ ảo xa vời của mây trắng ngàn năm phiêu lãng, hờ hững cuồn cuộn trôi " du du " đến những hình ảnh rất thực tế và sống động chứng minh sự hiện hữu của con người trong đó có nhà thơ đang đứng thầm lặng trên lầu Hoàng Hạc: cây cối tươi sáng rõ mồn một "lịch lịch" và cỏ thơm xanh mát mơn mởn "thê thê" …. Thôi Hiệu đã vẽ nên một bức tranh thủy mạc tuyệt vời. Thêm vào đó là hai địa danh cụ thể bất di bất dịch: Hán Dương và Anh Vũ đã tạo ra "thiên tính" của thơ cụ thể, dễ làm cho người đọc cảm nhận một cách dễ dàng, theo như quan điểm của một nhà phê bình văn học phương Tây: "Thơ không phải là thứ ngôn ngữ máy tính, cơ giới mà là thứ ngôn ngữ cụ thể có thể cảm nhận được … ý tượng của thơ không chỉ là sự óng ả trau chuốt , mài dũa mà còn là tinh hoa mẫn tuệ của ngôn ngữ trực quan (Hulme)". Hán Dương là thành phố dân cư ở phía Nam con sông và Anh Vũ, là một hòn đảo nhỏ giữa sông Trường Giang. Anh Vũ còn gọi là Cồn Vẹt (một loài chim ở lại đối lại với cánh hạc đã bay đi), tương truyền rằng cuối đời Đông Hán con trai của vị Thái Thú ở đây có mở tiệc ăn mừng, có một vị tân khách dâng chim vẹt, có người làm bài phú kể lại chuyện nầy, và từ đó bãi Anh Vũ được gọi là cồn Vẹt.
Thi sĩ Thôi Đồ (không phải Thôi Hiệu) cũng đã nói về bãi Anh Vũ nầy qua bài thơ cảm hứng "Anh Vũ Châu Xuân Vọng" (Ngắm cảnh xuân trên bãi Anh Vũ) có hai câu thơ tả cảnh và tình rất đẹp:

U đảo noãn văn Yên nhạn khứ
Hiểu giang tình giác Thục ba lai

(Thôi Đồ)(Trên đảo vắng –Anh Vũ- thoảng nghe tiếng chim nhạn Yên bay đi
Trên sông tạnh buổi sớm mai biết rằng sóng Thục đã xô về)

Đảo vắng nhạn Yên tung cánh vỗ
Sông mai sóng Thục dập dềnh xô

(Hải Đà)

Như vậy bãi Anh Vũ là một phong cảnh đẹp, có nắng ấm, có tiếng chim bay, có sóng vỗ, nhưng buồn vắng quạnh hiu, đã gợi tình cho tao nhân mặc khách đề thơ. Bãi Anh Vũ cũng đã được Lý Bạch đưa vào một bài thơ sẽ đề cập sau.
Từ cái cảnh tượng sống động thực tế trước mắt (nhãn quan) đó, nhà thơ đã đưa chúng ta đến cái cảm quan khi nhìn thấy sương khói mù mịt lãng đãng bao phủ bầu trời trên sông, để cảm thấy nỗi buồn vời vợi khi nghĩ đến quê hương xa cách nghìn trùng không biết ở đâu mà tìm "Nhật mộ hương quan hà xứ thị ? " (Chiều tối rồi, không biết quê nhà ở đâu nhỉ) …. Nếu phân tích cho kỹ, chúng ta không hiểu có phải sự vô tình hay cố ý mà tác giả bài thơ đã dẫn giải cho chúng ta thấy cái nguyên lý âm dương của tạo hóa vô hình … Cái sáng sủa của cây cỏ tốt tươi biểu tượng cái "dương" tính, trong khi cảnh hoàng hôn, chiều buông, mặt trời tắt báo hiệu một ngày đã hết biểu tượng cái "âm" tính. Đó là cái định luật vô thường của thiên nhiên tạo hóa.
Theo Lão Tử thì muôn sự vật trên đời rất đa dạng, và sự vật nào cũng muốn quay về nguồn cội của nó, và khi trở về căn nguyên nguồn cội tức là về trạng thái tĩnh (Phù vật vân vân, các phục quy kỳ căn, quy căn viết tĩnh). Hai câu thơ cuối trong bài Hoàng Hạc Lâu đã nói lên cái tâm trạng hoài hương của người lữ thứ xa nhà, xa quê biền biệt. Cái trạng thái tĩnh đó chính là cảnh hoàng hôn buồn vời vợi khi nắng chiều đã tắt, lại thêm khói sóng chập chùng trên sông đã tạo nên cái buồn não nuột cho khách đường xa mà bóng quê thì mờ mịt xa lắc xa lơ … ai mà chẳng nao nức muốn quay về nguồn cội là nơi quê nhà cũ của mình, đó chính là cái khát vọng sâu xa và thầm kín của con người muốn hòa nhập với thiên nhiên, và thiên nhiên cảnh vật chung quanh như muốn chia xẻ với người thơ nỗi ngậm ngùi xót xa, bồi hồi nhớ nhung quê cha đất tổ:

Chiều phủ quê xa mù mịt bóng
Sông vờn khói sóng não nề thay
PHÉP ĐỐI NGẪU VÀ CẤU TRÚC CỦA BÀI THƠ:

Theo luật thi, trong một bài thơ Đường bảy chữ (thất ngôn bát cú), theo nguyên tắc luật niêm vận phải chặt chẽ, phải tuân theo luật đối ngẫu, hai liên ở giữa phải đối nhau hài hoà cả thanh lẫn ý . Phép đối ngẫu (parallelism) là một phương thức kỹ thuật dùng chữ rất đặc trưng của các thi-sĩ Trung Hoa, có thể so sánh với pháp "ẩn dụ" (metaphor) của các thi sĩ phương Tây (một ví dụ về "pháp ẩn dụ" của phương Tây như: She has a heart of stone – Cô ta có trái tim bằng đá).
Tuy nhiên bài thơ Hoàng Hạc Lâu là một ngoại lệ. Bốn câu thơ đầu không theo đúng qui luật bằng trắc, làm ta tưởng chừng như đó là một bài thơ cổ phong. Phép đối ngẫu chỉ thành công khi nó diễn tả và lột xác được cái nội dung thâm thúy và ý tứ sâu sắc của bài thơ mà thôi. Nhờ những câu thơ đối nhau tuyệt tác tài tình mà người đọc có thể hiểu được và cảm nhận cái tinh hoa của bài thơ …Trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu, ngay hai câu thơ đầu tiên (liên 1) đã thấy có đối nhau (mặc dầu luật thi không bắt buộc), người ta nói đây là phá thể của thơ Đường:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Con chim hoàng hạc (một động vật di động) để đối lại với lầu Hoàng Hạc (một tĩnh vật bất động), người thơ đã đi ra ngoài khuôn cách gò bó của thể thơ Đường, người thơ đã "phá" cái cấu trúc thông lệ … và chính cái sự bất thường ngoại lệ đó đã làm nổi bật sáng tỏ hai sự vật tương phản, giữa cái động (chim) và cái tĩnh (lầu), giữa cái đi (chim đã bay mất rồi) và cái ở (lầu còn đó trơ trọi), đó chính là điểm phân biệt giữa cái hư vô và hiện hữu. Trong liên 2 (hai câu thơ 3 và 4) luật đối không chỉnh:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch vân thiên tải không du du
"

bất phục phản" (không trở lại) không đối chỉnh với "không du du"
(vẫn bay bay, hững hờ trôi)
Những nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đã phân tách và gọi hiện tượng nầy là "song hành phi đối xứng" (asymmetric parallelism). Nhà thơ đã phóng bút một mạch để ý thơ lai láng tuôn tràn tự nhiên mà tạo ra cái gọi là "tự đối tự phi đối", làm cho bài thơ tự nó có một sự lôi cuốn hấp dẫn lạ lùng.
Ngôn ngữ Đường Thi Trung Quốc là một sự giao hòa của các biểu tượng nhạc tính và âm tiết, nên khó diễn tả một cách tương ứng trong các bài thơ dịch ra ngôn ngữ ngoại quốc. Cái đặc trưng của ngôn ngữ thơ Đường là bao gồm "Từ tượng" (Onomatopoeia) nghĩa là sự kết hợp âm thanh trong một từ bắt chước giống nhau như "phì phì" (hiss), "cúc cu" (cuckoo), "thùm thụp" (thud); kế đến là "Trùng Âm" (assonance), và "sự lặp lại kế tiếp nhau của cùng một chữ hoặc một âm" (alliteration, ex: "sing a song of sixpence" – hát một bài hát về sáu xu) (The Chinese language provides a vast range of musical and rhythmic devices, none of which can adequately be shown in translation. Onomatopoeia, assonance and alliteration work in a way familiar to us but their use for conscious effect in Chinese is more often confined to pairs of words which sound typically poetic to a Chinese - Wayne Schlepp)
Những điệp-ngữ-thể (dùng hai chữ lắp làm một, "double-compound) là một xảo kỹ trong ngôn ngữ Đường thi, như qua bài Hoàng Hạc Lâu chúng ta đã thấy các chữ "du du, lịch lịch, thê thê", đã gây một sự lôi cuốn và quyến rũ vô cùng. Đây là một đặc điểm khó tìm thấy trong thi văn của phương Tây.Chúng ta cũng đã thấy trong Bài thơ Hoàng Hạc Lâu 4 câu thơ đầu mà đã có 3 lần lặp chữ, trùng ý "hoàng hạc" (câu 1,2,3) và 2 lần chữ "không" (câu 2 và 4), đây là những điểm tối kỵ trong luật thơ Đường rất cô đọng vỏn vẹn trong 8 câu và 56 chữ . Nhưng không vì thế mà bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã trở thành tầm thường gượng ép, trái lại ý thơ tuôn trào một cách tự nhiên mạch lạc … Điểm khác biệt nầy chính là điểm sáng của bài thơ …Tác giả đã không ngần ngại phơi bày hình ảnh "hạc vàng" ba lần trong một bài thơ ngắn gọn chắc hẳn phải có một dụng ý thâm thúy … điều đó tác giả chỉ muốn gây một ấn tượng mạnh vào tâm hồn người đọc, vì hình ảnh "hạc vàng" tượng trưng cho sự tao nhã, cao quí, cho một cái gì vĩnh hằng và vô thường … Người ta thường nói rằng "cưỡi hạc qui tiên" phải chăng "hạc vàng" là phương tiện cao siêu huyền bí để dẫn dắt và chuyên chở con người đến một thế giới khác vô nhai vô thủy vô chung, một nơi chốn vĩnh cửu tu tâm đắc đạo, đạt được chân lý vi diệu của đạo pháp, để thấy rằng cuộc đời chỉ là một giấc mơ ngắn ngủi tạm bợ, công danh sự nghiệp chỉ là màn vân cẩu ảo hóa, phù du. Trong tác phẩm Hồng Lâu Mộng, Lâm Đại Ngọc đã phát biểu "Quả thật nếu có những câu thơ kỳ lạ, thì dù không cần theo đúng bằng trắc, hư thực và không cần đối chỉnh cũng đều được cả" (Nhược thị quả hữu kỳ cú, liên bằng trắc hư thực bất đối đô sử đắc đích) . Để diễn đạt được ý thơ tuyệt tác, Thôi Hiệu đã không ngần ngại phóng bút như vậy, cái tài tình của nhà thơ đã không làm cho "từ" hại "ý" là vậy. Tác giả đã phá cách thể thơ như vậy, nhưng chỉ trong 4 câu đầu, và tác giả đã mau chóng trở lại với niêm luật và đối khổ trong 4 câu thơ sau để còn giữ cái phong cách an nhiên tự tại và sắc thái tao nhã lịch lãm của bài thơ Đường luật. Đây là một nghệ thuật chuyển ý tuyệt vời, nghệ thuật tài tình đó như một chất keo pha lê gắn liền hai nửa khác nhau, không để lại dấu vết ranh giới, để chuyển hợp hài hòa thành một bài thơ Đường có cấu trúc hoàn mỹ và tinh vi …
LÝ BẠCH VÀ HOÀNG HẠC LÂU

Thi sĩ Lý Bạch là một ngôi sao Bắc Đẩu sáng chói của thời Thịnh Đường (713-846), thi ca được phát triễn rực rỡ, đa dạng, phong phú đủ mọi đề tài, là nhờ sự yêu chuộng văn nghệ và quí trọng thi nhân của vua Đường Minh Hoàng. Lý Bạch là một đại thụ sừng sững nổi bật nhất trong thời kỳ thịnh đạt của Đường Thi. Ông là người tiền phong khai sinh trường phái lãng mạn, mang tinh thần tự do, phóng túng, phối hợp hiện thực với huyền thoại.
Tương truyền rằng có lần thi-sĩ Lý Bạch đến viếng thăm lầu Hoàng Hạc, định làm một bài thơ tả cảnh lầu nầy, có đọc được bài thơ của Thôi Hiệu thấy quá hay nên ông ta không làm thơ nữa, và đề lên tường hai câu sau:

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu

(Cảnh đẹp trước mắt, tả không được
Vì thơ Thôi Hiệu đề ở trên)Theo một bài tham khảo của giáo sư Wei Shang trường đại học Columbia về đề tài "Sự kiện ám ảnh thi sĩ Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu" (History of an Obsession: Li Bai and Yellow Crane Tower). Theo Wei Shang, Lý Bạch là một nhà thơ rất nổi tiếng đời Đường, ám ảnh bởi bài thơ tuyệt tác của Thôi Hiệu ở lầu Hoàng Hạc mà đành im lặng, mặc dầu không nói ra sự bất mãn nhưng Lý Bạch đã không thể bình tâm trước sự kiện nầy, và Ông đã gián tiếp ngấm ngầm tạo ra một cuộc đối thoại với Thôi Hiệu qua những bài thơ tương tự đề cập đến lầu Hoàng Hạc và những cảnh trí khác với chủ đề và tình ý tương tự Hoàng Hạc Lâu, điển hình là bài "Lầu Phượng Hoàng" (Phoenix Tower at Jinling) và bài Anh Vũ Châu . Theo bài tham luận của giáo sư Wei Shang, đại học Columbia, đã nêu ra hai vấn đề:
1- sự chính xác của tài liệu gốc và sự đua tranh giữa các nhà thơ Đường nổi tiếng.
2- các điều kiện hoàn cảnh thực sự hoặc tưởng tượng khi những bài thơ nầy được sáng tác vào thời gian nào, giai đoạn nào, đã được lưu hành và đáp ứng như thế nào . Trong một bài thơ, Lý Bạch đã mơ tưởng đến sự phá tan Lầu Hoàng Hạc ra từng mảnh. Trong một bài thơ khác Lý Bạch cũng tưởng tượng đến việc xây dựng trùng tu lại lầu Hoàng Hạc… với một bờ tường có lớp sơn mới để như mời mọc Lý Bạch đề một bài thơ mới do Lý Bạch sáng tác lên đó. Việc xây một bờ tường với lớp sơn mới để xóa đi hoặc che phủ bài thơ cũ của Thôi Hiệu đã mở ra một trí tưởng tượng sáng tạo của Lý Bạch ..
Dù đây có phải là một truyền thuyết hay không giữa Lý Bạch và Thôi Hiệu với Hoàng Hạc Lâu cũng không phải là vấn đề quan trọng cho hậu thế. Nhưng điều đó chứng tỏ cái tuyệt vời đặc sắc của một bài thơ Đường. Dù là truyền thuyết đi chăng nữa, qua những bài thơ của Lý Bạch viết có nhắc đến địa danh Hoàng Hạc Lâu (dẫn chứng dưới đây) chứng tỏ Lý Bạch rất quan tâm về địa-danh và bài thơ nầy của Thôi Hiệu. Những bài thơ của Lý Bạch có đề cập đến lầu Hoàng Hạc như:

Hoàng Hạc Lâu văn địch

Nhất vi thiên khách khứ Trường Sa
Tây vọng Tràng An bất kiến gia
Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc địch
Giang thành ngũ nguyệt Lạc mai hoa

Lý Bạch

Nghe tiếng sáo ở lầu Hạc Vàng

Làm thân ly khách tận Trường Sa
Nhìn lại Tràng An chẳng thấy nhà
Hoàng Hạc lầu thơ vi vút sáo
Giang Thành réo rắt khúc Mai hoa

Hải Đà dịch
(Lạc mai hoa = tên một điệu nhạc sáo thổi)hoặc một bài thơ khác của Lý Bạch cũng nhắc đến địa danh nầy, như bàiHoàng Hạc Lâu Tống Mạnh Hạo Nhiên Chi Quảng Lăng

Cố nhân tây từ Hoàng Hạc Lâu
Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu
Cô phàm viễn ảnh bích không tân
Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu

Lý Bạch
Giã từ Hoàng Hạc bạn về tây
Cảnh tiết thành Dương hoa khói bay
Nhòa nhạt trời xanh buồm khuất bóng
Trường Giang cuồn cuộn tận chân mây

Hải Đà dịch

At Yellow Crane Terrace Farewell to Meng Hao-jan, Leaving for Kuang-ling

From Yellow Crane Tower you sail
the river west as mist flowers bloom.
A solitary sail, far shadow, green mountains at the empty end of vision
And now, just the Yangtze river touching the sky.

(Translated by Tony Barnstone, Willis Barnstone, and Chou Ping)
Một bài thơ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của bài Hoàng Hạc Lâu phải nói là bài Anh Vũ Châu, ý tình thắm thiết, từ điệu phong phú, tiết tấu nhẹ nhàng, cũng là một danh tác bất hủ:

Anh Vũ Châu

Anh Vũ lai quá Ngô giang thủy
Giang thượng châu truyền Anh Vũ danh
Anh Vũ tây phi lũng Sơn khứ
Phương châu chi thụ hà thanh thanh
Yên khai lan diệp hương phong khởi
Ngạn giáp đào hoa cẩm lãng sinh
Thiên khách thử thời đồ cực mục
Trường châu cô nguyệt hướng thùy minh

Lý Bạch

Bãi Anh Vũ

Sông Ngô anh vũ lướt bay qua
Anh Vũ thành xưa vẫn gọi là
Núi Lũng trời tây anh vũ khuất
Bãi thơm cây biếc chập chờn xa
Lá lan thoang thoảng lừng hương gió
Sóng gấm bập bềnh lượn sát hoa
Lữ khách hoài trông trời tít tắp
Tình ai trăng dọi sáng đêm tà ?

Hải Đà dịch

 

VĂN*THƠ* NHẠC* SƯU KHẢO
HTTP://WWW.VUONGHAIDA.NET
Bạch Cư Dị
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hoa Khổ Đau
Hải Đà biên soạn và tuyển dịch
Nhạc: MaiĐứcVinh,HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy,MinhThao, PhạmAnhDũng,NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Phượng Nở Trong Thi Ca
Hải Đà - Vương Ngọc Long
Xuân Về Nhớ Lại Cảnh Tình Xưa
Nhạc: Võ Tá Hân
Thơ Vương Ngọc Long
DVD KARAOKE
1.jpgHNV.jpgdhdk2.jpghdnn.jpg