Bản dịch của các thi hữu
Nhạc: Mai Ðức Vinh
Tình Ca Mai Ðức Vinh
Phổ Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc Nguyễn Đăng Tuấn
Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc: MaiĐứcVinh, HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy, MinhThao, PhạmAnhDũng, NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Nhạc Mai Đức Vinh
Ca sĩ Bảo Yến trình bày

Article Index

 

(Chân thành cám-ơn TS Phạm-Vũ-Thịnh,Sydney, Australia và nhà báo Hà-Chính-Trực, Georgia, USA đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu cũng như cung cấp nhiều dữ kiện và tài liệu cho bài sưu-khảo này )

Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế là một trong những bài thơ Đường lừng danh như những bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu, bài Giang Hán của Đỗ Phủ...
Học giả Trần Trọng San, trong bài bạt " Tôi bước vào cảnh giới Đường Thi từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc" đã tâm sự rằng "Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường mà gia-nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời ..." (TTS)Trong Nguyệt-San Y-Tế số tháng 8-2001 , một tác giả có đặt vấn đề với chữ "Phong-Kiều" và "Sầu Miên" :
    1-hai chữ Giang phong không phải là Sông với Cây Phong ( erable) mà tên của hai cây cầu.
    2-còn hai chữ "sầu miên" thì không phải là Buồn và Ngủ mà là tên của một hòn núi
và tác giả đã đặt nghi vấn "hóa ra các Cụ Thâm Nho nhà mình đều dịch sai nghĩa Giang phong ngư hỏa đối sầu miên ?" và còn e ngại rằng " dẫu sao thì các học giả Trung Quốc mà đọc được chữ Việt sẽ cười thầm các cụ thâm nho nhà mình"( nguyên văn)
Do lời kêu gọi góp ý của tác giả, chúng tôi xin mạn phép có vài ý kiến làm sáng tỏ phần nào vấn đề " Giang Phong và Sầu Miên nghĩa là gì ?"

ĐÔI GIÒNG VỀ THI-SĨ TRƯƠNG-KẾ

Thi-sĩ Trương Kế tự Ý-Tôn, thuộc thời Trung-Đường (cùng thời với Thôi-Hộ, Mạnh Giao, Vương Kiến, Hàn Dũ ...) người Trương Châu, tỉnh Hồ Bắc. Năm 754, Ông thi đỗ tiến-sĩ , và được đề-cử làm Diêm thiết phán quan trong quân mạc phủ, trông coi về việc mua bán muối và sắt. Sau đó vào đời Đường Đại Tông, Trương Kế được vào triều làm chức Tư bộ viên ngoại lang , rồi sau đó về Hồng Châu trông coi việc tài-phú và mất tại tỉnh này . Suốt đời công việc chủ yếu của Ông là mua bán, thương mại . Nhưng Ông cũng là người đa tình, đa cảm, đa sầu, những lúc đi ngao du sơn thủy, ngắm cảnh thiên nhiên mà tức cảnh sinh tình, và trong những giây phút ngẫu hứng Ông làm thơ. Phong Kiều Dạ Bạc là một bài thơ nổi tiếng của Thi sĩ Trương Kế và đã gây ra nhiều cuộc bàn cãi văn chương nghệ thuật và địa danh lịch sử .

NGUYÊN VĂN BÀI THƠ và NGUYÊN TÁC CHỮ HÁNPHONG KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền .

phongkieudabac1

Dịch nghĩa:
CẦU PHONG, ĐÊM NEO THUYỀN
Trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời
Cây phong bến sông, ánh đèn chài, trước giấc ngủ buồn
Ngoài thành Cô Tô là chùa Hàn Sơn
Nửa đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách .

Dịch thơ:

1-Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ ...

2-Nguyệt tà, quạ lảnh lót kêu sương
Ánh lửa cầu phong vỗ mộng thường
Bến vắng Cô Tô thuyền lẻ bóng
Hàn Sơn rền rĩ khách nghe chuông

3-Trăng lặn, sương đầy, tiếng quạ kêu
Bến phong, ánh lửa, giấc đìu hiu
Cô Tô quạnh quẽ thuyền neo bến
Chuông đổ Hàn Sơn vẳng tiếng đều

4-Quạ kêu, trăng lặn, sương đầy
Bến phong, lửa đóm, sầu say giấc hồ
Hàn Sơn khuất bến Cô Tô
Nửa đêm thuyền khách thẫn thờ nghe chuông ..

Hải Đà

BÀN VỀ ĐỊA DANH CỦA CHÙA HÀN SƠN

Chùa Hàn-Sơn (Hàn-Sơn-Tự) ở thị trấn Cầu Phong (Phong Kiều) , phía tây ngoài tỉnh Tô Châu. Chùa được xây vào triều-đại nhà Lương (502-557), thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc. Vào thời Đường (618-907) , một vị sư nổi tiếng có tên là Hàn-Sơn (Hanshan) đã đến trụ trì và sửa sang lại ngôi chùa này và sau đó chùa được đặt tên là Hàn-sơn-Tự. Đây là 1 trong 10 ngôi chùa lừng danh của Trung Quốc. Bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" (Đêm Neo Thuyền ở Cầu Phong, A Night Mooring by Maple Bridge) của Trương Kế rất là phổ thông và được quần chúng ưa chuộng. Bài thơ có nói về tiếng chuông chùa thường được đánh vang lên nửa đêm, làm Hàn-Sơn-Tự thành một địa danh được nhiều người trong và ngoài nước biết đến. Chùa bị phá hủy bởi thời gian, thiên nhiên và chiến tranh, nhưng cũng đã được trùng tu nhiều lần qua nhiều thời-đại. Ngôi chùa nằm trên một khu vực rộng khoảng 45 mẫu đất , được chia làm nhiều khu vực gồm có chánh điện, một bờ tường hình vòng cung có nhiều tranh họa, một tháp chuông được gọi là Tháp Phong Kiều, được coi là di-tích quan-trọng nhất của Chùa Hàn. Cái chuông đồng được nói đến trong bài thơ của Trương Kế thật sự đã bị thất lạc từ lâu, và cái chuông hiện giờ đang trưng lãm được đúc vào triều đại nhà Thanh vào năm 1906. Khi chuông được đánh lên, những âm thanh vang vọng rền rĩ dội vào tường , xen lẫn với những tiếng tụng kinh gõ mõ của các nhà sư đã đem lại cho người nghe những cảm giác nghiêm trang, cung kính , tâm hồn chơi vơi vào tận cõi hư vô. Theo truyền thuyết tôn-giáo ở Trung-Quốc , mỗi năm người trần tục phải chịu đựng 108 nỗi ưu phiền, khổ lụy (vexations) , và khi nghe một hồi chuông vọng lên có thể gột rửa đi được một nỗi ưu phiền trần ai . Hàn Sơn Tự trở thành một danh lam thắng cảnh của thế-giới , cứ mỗi dịp Tết, ngay đêm giao-thừa sắp sửa bước qua ngưỡng cửa năm mới, các du-khách Phật Tử thường hay ghé thăm chùa nầy để nghe chuông chùa được dánh đến 108 lần, và các thiện nam tín nữ kính dâng lòng thành cầu nguyện cho sự may mắn và hạnh phúc trên đời. Tục lệ nầy đã bắt đầu từ năm 1979 . Hiện giờ trong ngôi chùa có một vuông đá khắc trạm trổ bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của Trương Kế.

ĐÔI LỜI DIỄN GIẢI

Như đã biết, Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ Đường nổi tiếng của Trung-Quốc và chính vì nhờ bài thơ nầy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng mà chùa Hàn Sơn đã trở nên một danh lam thắng cảnh thu hút rất nhiều du-khách ngoại quốc đến viếng thăm hằng năm.Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao một bài thơ "tả cảnh thiên nhiên" với những cảnh sắc bình thường như cây cầu , bến nước, hàng phong, trăng tà, sương đầy trời, tiếng quạ kêu, khách thuyền thơ v.v... mà lại nổi tiếng và được lưu-truyền vượt thời gian và không gian ? Cái khung-cảnh "thiên nhiên" trong bài thơ này không lãnh đạm, vô tình , mà là một cảnh sắc trữ tình sống động, trầm lặng tịch liêu, bàng bạc cái tâm bao la của thiên nhiên vạn vật, làm người nhìn phải xao xuyến, đăm chiêu, rồi đắm chìm trong nỗi sầu nhớ triền miên, trong cái buồn bát ngát hư không, quay cuồng với muôn vàn nỗi nhớ thương : nhớ quê, nhớ nhà, nhớ gia-đình. Con người với một tâm thức lãng mạn, chỉ còn là một sinh-vật bé nhỏ , hữu hạn, cảm thấy cô đơn và lạc lõng , và bị bao trùm phong tỏa trong cái vũ trụ vô chung vô thủy, chìm ngập trong cái vô tận của màn đêm, cái bát ngát mênh mang của sương khói vô hình, không bến bờ. Chúng ta có thể tưởng tượng rằng thi-sĩ Trương Kế, trong một đêm trăng mùa thu, neo thuyền tại bến nước Phong Kiều, lặng thầm nhìn trời đất chung quanh ... Một đêm cô liêu quạnh quẽ chỉ người và cảnh vật gợi cảm, gợi tình ... nhìn lên màn trời đen là hình ảnh của một một mảnh trăng vàng vọt đang từ từ lặn vào cõi vô cùng, và mờ mờ gần xa là một màn sương khói dầy dặt quanh thuyền mà Ông tưởng chừng hàng hàng lớp lớp sương mờ ảo hư vô đó đang tỏa dâng đầy ắp khung trời. Những làn sương khói hư ảo đó đã đem lại cảm giác liêu trai lành lạnh thấm dần vào cơ thể, cảm xúc và tâm hồn của nhà thơ. Khung cảnh đêm huyền ảo, mông lung, tịch mịch , và tiếng quạ kêu lanh lảnh như chọc thủng màn đêm cô quạnh ... Ở gần đó là cây cầu cong bắc ngang sông, chia cách kẻ bên này, người bên kia, và những lá phong đỏ ối, phơ phất trong gió, và chiếc thuyền nan neo trên sóng nước bập bềnh đã gợi lại nỗi nhớ nhà da diết , đem lại niềm sầu cảm vô biên ... Lá phong chuyển màu đỏ ối, như trong một câu thơ Kiều " Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san" , và cũng như một chiếc lá ngô đồng rơi xuống , cơn gió heo may tha thướt... là những báo hiệu cho một mùa thu đã trở về trên bến sông đất khách quê người ... "Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu " (Một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cả thiên hạ biết mùa thu đã trở về ...). Cái độc đáo của Trương Kế là làm cho những cảnh vật hiện hữu trở nên linh động và có hồn ... Bên cạnh những cái "tịnh" im lặng quạnh quẽ : trăng tàn, sương đầy, cây phong bên bến nước, chiếc thuyền neo lại, ngôi chùa vắng vẻ ... là những cái "động" làm bàng hoàng thảng thốt khách thơ: tiếng quạ kêu não nùng tha thiết, ánh lửa chài leo lắt, bập bùng đem lại cho người khách tha-phương một nỗi nhớ khôn nguôi, một xúc cảm lâng lâng vơi đầy . Và trong cái tĩnh lặng của màn đêm đầy sương đó , bỗng đâu rền rĩ, văng vẳng đong đưa từng hồi chuông hư vô, vọng đến thuyền chài và khách thơ nửa đêm, đã gây được sự cảm nhận tri-ngộ trong tâm hồn của người thơ khiến cho cảm xúc dâng đầy, bay bổng chơi vơi ..Trong cảnh trí buồn bã đó .... ai mà chẳng chùng lòng ....Những cụm từ đơn lẻ và tĩnh lặng:"trăng lặn" (nguyệt lạc), "quạ kêu" (ô đề), "sương đầy trời" (sương mãn thiên), đã cho ta hình tượng được cái thời-gian xảy ra: khi trời vẫn còn đêm trước khi chạng vạng tranh tối tranh sáng ... một thời gian của buồn bã trầm thống để tạo ra sự "sầu miên". Và cái không gian của tĩnh vật: hàng cây phong bên bến sông (giang phong) , ngọn lửa chài trên thuyền (ngư hỏa) , ngoại thành Cô tô, chùa Hàn San . Trong cái thời gian và không gian huyền ảo , cô tịch đó đã văng vẳng tiếng chuông: sự độc đáo của bài thơ là đưa cái âm thanh huyền hão này vào.
Trong 2 câu thơ đầu: " Nguyệt lạc / ô đề / sương mãn thiên /Giang phong / ngư hỏa / đối sầu miên / có 5 biểu tượng cụ thể là những cảnh trí rời rạc nhưng đã liên kết lại thành một biểu tượng duy nhất để dẫn dắt đến cái biểu tượng thứ 6 mơ hồ và trừu tượng đó là sự "sầu miên" của người nhìn cảnh .Thêm vào đó là cảnh một chiếc thuyền lẻ loi, neo lại dưới chân cầu trước sự vật sầu thảm trong cõi vũ trụ mênh mông vô thường, và âm thanh của tiếng chuông chùa ngân vang . Cái đặc trưng của tác giả khixúc cảm thành thơ là không tự đưa cái "ngã" , cái "tôi" của mình để nhận xét sự việc chủ quan , mà chỉ xem mình như một "tha nhân", một người khách thơ trên thuyền để cái tâm tự tri-ngộ với cảnh sắc thiên nhiên một cách khách quan hơn .

BÀN VỀ ÂM THANH TRONG BÀI THƠ

Theo một truyền thuyết kể lại , trong một đêm trăng ở bến Phong Kiều, có một chiếc thuyền dạo mát đậu lơ lửng trên sông, trong đó có một nhà Sư và đệ tử trụ trì tại Chùa Hàn Sơn . Nhà Sư ngẫu hứng ngâm nga 2 câu thơ:

"Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán tự ngân câu bán tự cung"

(Mồng ba mồng bốn trăng mờ/ Nửa dường móc bạc nửa như cung trời)

Chú tiểu thấy hay quá mới làm tiếp hai câu sau :

"Nhất phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán trầm thủy để bán phù không"

(Một bình ngọc trắng chia hai/Nửa chìm đáy nước nửa cài từng không)

Khi về chùa đã nửa đêm rồi, Nhà Sư đánh chuông lên để xin cảm tạ Đức Phật về sự hoàn thành bài thơ tứ tuyệt kể trên . Tiếng chuông này đã vọng đến bến sông mà gần đó có chiếc thuyền của Trương Kế, gợi ý nên câu cuối của bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc" Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền"(trích trang http://www.geocities.com/SoHo/Study/1080/index.html)
Như vậy "âm thanh" của tiếng chuông chùa nửa đêm chính là nét đặc thù, biệt điệu của bài thơ nầy .Các tác giả Trung-Hoa Cao Hữu Công - Mai Tổ Lân trong sách nói về"Nghệ Thuật Ngôn Ngữ Thơ Đường" (do Trần Đình Sử và Nguyễn Khắc Phi dịch) có bàn luận về đặc trưng của âm thanh trong nghệ-thuật thơ Đường. Thính giác được cảm nhận thông thường từ những biểu hiện do nhạc khí hoặc vật thể tạo ra tiếng, những sinh vật phát ra tiếng chẳng hạn như "nhân ngữ" (người nói) , "mã tiêu" (ngựa hí) , "điểu minh" (chim hót) . "Thanh" là biểu tượng của thính giác : chung thanh (tiếng chuông), tuyền thanh (tiếng suối), thủy thanh (tiếng nước) , lãng thanh (tiếng sóng) , trạo thanh (tiếng chèo) v.v...). Bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" đã nổi tiếng là nhờ tác-giả đã đưa tiếng chuông chùa vào câu cuối, đã gây ra sự bàn cải sôi nỗi, về thời gian và không gian . Hai danh từ ghép "Chung + Thanh" đã làm cho cái biểu tượng "thính giác" của sự nghe được tăng cao và gây một ấn tượng sâu đậm hơn . Chính cái âm-thanh của tiếng chuông rền rĩ này đã làm lay động được màn cô liêu tịch mịch, để diễn tả được nỗi lòng "sầu miên" của khách thuyền (tha nhân) mà cũng chính là người thơ . Từ những nhận thức về sự vật, phong cảnh chung quanh, của một thế giới ngoại cảnh khách quan, từ đó để dẫn dắt đến và khuấy động tư-duy và nhận thức của người thơ để đưa đến cái cảm giác vô hình trừu tượng , tình và cảnh đã gắn bó với nhau một cách mật thiết và hài hòa, qua kỹ thuật điêu luyện xử dụng ngôn ngữ thơ chắt lọc, lựa chọn và cô động trong một bài thơ chỉ có 4 câu và 28 chữ, nhưng đã nói lên được cái nghệ thuật sống động, cái tâm hồn thư thái, quan niệm nhân sinh, tư duy phóng khoáng, đa dạng và phong phú, làm cho người đọc cảm thấy một sự đồng tâm, đồng điệu kết giao giữa tình và cảnh. Cái âm thanh huyền diệu của tiếng chuông chùa trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc chẳng khác cái âm thanh của chiếc sáo gió vi vút mấy tầng không trong một câu thơ bất hủ của Đỗ Phủ :
"Lạc nhật lâu đài nhất địch phong" (chiều tàn, mặt trời khuất, trên lâu đài, có tiếng sáo gió vút lên cao )....

VÀI CẢM NGHĨ VỀ CÁCH DỊCH THƠ ĐƯỜNG

Chúng tôi xin trích dẫn vài dòng trong bài tham-luận "DỊCH LÀ ĐỐI THOẠI" của Nhà thơ và dịch giả Khương-Hữu-Dụng " Cám dỗ thứ nhất rủ rê ta quá nệ vào "nghĩa" . Thơ không phải có "nghĩa" mà còn có "chữ" , mà "chữ" trong câu thơ đều có giấy chứng minh riêng do nhà thơ cấp . Chính diện mạo riêng cũng như bố cục riêng của chữ tạo thành sức sống trường kỳ của câu thơ . Chỉ tập trung vào "nghĩa" mà quên "chữ" sẽ cho ta một bản dịch tưởng là đúng cực kỳ , nhưng mà sai ghê gớm vì người dịch đã vô tình mắc trọng tội giết chết bài thơ để cung cấp cho ta một cái "xác", giống thì giống thật, nhưng không có "hồn" ..."(KHD).
Mặt khác, một học giả Trung-Hoa cho rằng việc dịch thơ cần phải dưạ trên ba yếu tố căn bản và thiết yếu là " Tín , Đạt, Nhã"."Tín" là đòi hỏi phải trung-thành với nguyên-bản của bài thơ, cần nghiền ngẫm chu-đáo kỹ lưởng, tìm hiểu lai lịch gốc tích, ý nghĩa của từng từ ngữ, cũng như điển tích của từ ngữ thơ , để cảm nhận nét hay vẻ đẹp của bài thơ gốc . "Đạt" là đòi hỏi chính xác và thành đạt như bài thơ gốc, đúng như tư duy và cảm nghĩ, ý tưởng của tác giả bài thơ . "Nhã" nghĩa là trang-nhã, đẹp và hay, đọc bài thơ dịch cần có âm điệu, đọc lên gây sự rung cảm sâu xa cho người đọc . Nhưng nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba yếu tố "Tín, Đạt, Nhã" thì e rằng việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng ....Cho nên dịch thơ đôi khi cũng cần sự phóng khoáng, cởi mở và không phải gò bó theo đúng khuôn phép, tuy nhiên tránh việc làm lệch lạc "ý" của bài thơ gốc , nghĩa là phải lựa chọn chữ để đem được cái "ý tưởng" , "tâm hồn" và "thần sắc'' vào bài thơ dịch, để độc giả khi đọc bài thơ đó tự-nhiên có cảm tưởng biết ngay cái nguồn gốc của bài thơ dịch là từ đâu ... Chứ không thể thêm thắt bừa bãi để biến thành "dịch" là "phản" thì thật là bất công và vô tâm đối với tác-giả bài thơ gốc . Theo thiển ý của chúng tôi , các địa-danh (danh từ riêng của tên, họ, địa điểm ....) nên giữ đúng nguyên văn, như thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn, hoặc nếu cần để bài dịch đúng âm điệu và thi-pháp thì có thể nói một cách khái quát như "thành" hoặc "bến" (Cô Tô) , hay chùa (Hàn Sơn). Chứ một địa-danh như Chùa Hàn Sơn mà dịch là "Núi Lạnh" (Cold Mountain) thì không hiểu rằng có "phản bội" ngôn-từ nguyên-bản hay
không ?
Thơ không phải là ngôn ngữ của "khoa học" (một cộng với một là hai ) mà thơ là nguồn tinh-khôi của cảm nhận và ý tưởng hòa đồng, và từ sự vật cụ thể để dẫn dắt đến cái trừu tượng bao la khó diễn tả, không thể sờ, mó, ngửi ... mà chỉ cảm nhận bằng tâm hồn và cảm xúc . Thơ là một ngôn ngữ của trực quan , có sức truyền cảm mãnh liệt . Sở dĩ chúng tôi xin nêu ra vài quan-điểm về sự dịch thơ để tìm một giải đáp có thể chấp nhận trong việc tìm hiểu và giải thích ý nghĩa những từ ngữ "sầu miên" và "phong kiều"

"SẦU MIÊN" CÓ PHẢI TÊN CỦA NGỌN NÚI HAY KHÔNG ?

Trong Nguyệt San Y Tế số tháng 8-2001, tác giả bài viết đã đặt nghi vấn : "Hay là chỉ tại vì chữ Nho không có lối viết hoa khác với lối viết thường để phân biệt danh từ thường (nom commun) với danh từ tên (nom propre) nên các cụ Thâm Nho nhà mình đã hiểu lầm? "( nguyên văn)
Để hiểu rõ "sầu miên" không phải là danh từ riêng, không phải là tên của một ngọn núi, tưởng chừng cũng nên nhắc lại sơ lược diễn tiến cấu tạo chữ Hán.
Hán tự có nguồn gốc lâu đời như lịch sử Trung Hoa. Khởi thủy người ta phỏng vẽ lại hình tượng các vật để làm chữ, gọi là đơn tự. Lấy ví dụ hình ô vuông là chữ khẩu (cái miệng ).
Khi nền văn hóa tiến triễn, nhu cầu chữ viết gia tăng, những chữ mới được thiết lập thêm bằng nhiều cách như vẽ thêm nét hay ghép những chữ đã có với nhau, để có nhiều đơn tự mới. Lấy ví dụ như chữ khẩu nói trên, nếu thêm chữ thập, tức là dấu cọng, vào ở giữa để chia ô vuông ra làm bốn phần, thì hóa ra chữ điền có nghĩa là thửa ruộng hoặc là ghép 3 chữ khẩu gần nhau thì ra chữ phẩïm nghĩa là giá tri, tốt xấu.
Sựï thêm thắt sáng tạo này đươc hệ thống thành từng bộ. Các bộ chữ này được đặt tên như Kim, Mộc, Thủy, Thổ, Hỏa, vân vân... để tiện cho việc thiết lập và tra khảo.
Văn minh tiếp tục tiến lên, nhiều đơn tự được kết lại thành từ ngữ hay chữ kép, nhằm đáp ứng nhu cầu diễn đạt ý tưởng của con người. Khác loài thú, homo sapiens có khối chất xám biết suy tư , biết cái thú vị của Cầm, Kỳ, Thi, Họa...
Chữ Hán qua tiến trình sáng tạo như vậy trở thành một ngôn ngữ lớn, có đầy đủ các từ chung (commun), từ riêng (propre), từ đơn , từ kép . Chỉ có điều là chữ Hán không phân biệt chữ hoa chữ thường như lối viết của chữ Việt hay Anh, Pháp ngữ, mà người ta thường phải dùng lối viết hoa để phân biệt một danh từ riêng.Nhưng đừng vội kết tội cho cái sự kiện đó là nguyên nhân gây ra việc dùng chữ Hán bị hiểu lầm ý nghĩa giữa danh từ riêng hay chung bởi hai lẽ:
Lẽ thứ nhất : Hán văn có nhiều đơn từ đồng âm nhưng dị nghĩa vàdị tự, nghĩa là có nét chữ viết hoàn toàn khác biệt và dĩ nhiên khác nghĩa. Lấy ví dụ như chữ HÀN có nghĩa là lạnh, đây là một từ chung, khác với chữ HÀN là Triều Tiên, và đây là một danh từ riêng, không thể lầm lẫn qua nét viết. (Hán Việt tự điển, NVK, quyển thượng, trang 353).
Lẽ thứ hai: Như đã nói Hán văn có từ ngữ , chữ kép, để định rõ trường hợp một danh từ riêng. Hãy lấy ngay ví dụ chữ hàn , tựï nó là đơn tự, chỉ có nghiã chung, nhưng khi Thi Sĩ Trương-Kế gieo vần thơ, Ông đã kết hợp với chữ sơn và chữ tự, thì Hàn Sơn Tự biến thành danh từ riêng, chỉ tên của một ngôi chùa.
Qua nhận xét về cách viết của Hán tự và căn cứ vào các nguyên bản chữ Hán của bài thơ, cùng tra cứu nhiều tựï điển chữ Hán, chúng tôi, một lần nữa, không ngần ngại đồng ý với các dịch giả Đông Tây Kim Cổ rằng "sầu miên" trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc không phải là danh từ riêng, không chỉ tên của một ngọn núi, trừ khi Thi Sĩ họ Trương tái thế, cầm bút mực gieo lại vần thơ làm sao cho có thêm chữ "sơn" hay "san" đi kèm , thì sầu miên sơn hay sầu miên san, lúc ấy mới đúng là một danh từ riêng chỉ tên một hòn núi.Tưởng cũng nên nói thêm về chữ SẦU ở đây, đã được tra xét trong sách vở, không có một đơn tự nào đồng âm dị nghĩa hay dị tự với nó. Dẫu rằng Sầu mang ý nghĩa trừu tượng , nhưng qua quá trình thành lập chữ, người xưa cũng đã sáng kiến gài vào đó chữ Tâm có hình vẽ và ý nghĩa thực tế của một quả tim với bộ đồ lòng quen thuộc trong lục phủ ngũ tạng của con người . Thì ra, từ gốc rễ , chữ nghĩa cũng cần có sự giao lưu để diễn đạt ý và để có thể nói rằng thực tế và trừu tượng là hai yếu tố như hình với bóng bất khả phân ly, trừ khi vạn vật đắm chìm trong u tối.
( Trích Sưu Khảo của Vương-Huệ trong http:// phanchautrinhdanang.com )Và trong thơ văn cho rằng cái cụ thể bắt buộc phải đối với cụ thể, nghe chừng như nghịch nhĩ ...
Bài viết của tác giả (NSYT 8-01) có đề-cập đến một đoạn nhận xét của Mai-Nguyệt trong bài Đi tìm Di Tích Lịch Sử Bách Việt Qua Thi Ca Kim Cổ Hoa Việt của học giả Hương Giang TVK rằng : 2 chữ Sầu Miên là tên hòn núi lớn đối diện với bến Phong Kiều, là cầu bắc ngang sông có trồng nhiều cây phong, tức là hai cảnh trí cụ thể vật chất mới đối diện (opposite) với nhau được, chớ một vật cụ thể không thể đối diện với sự ngủ buồn vô hình dung (và sự dẫn chứng bằng ... một bức tranh màu...)
Thiết tưởng một vật cụ-thể đối diện với một cụ thể chỉ là một dẫn chứng có tính-chất khoa-học vật thể khô khan, chứ không phải là một dẫn chứng và diễn giải áp dụng cho ngôn ngữ Thơ nữa . Còn đâu là "tức cảnh sinh tình" ...." Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ....." . Chúng ta hãy tưởng tượng ở một bến sông, với mùa thu có gió heo may, một chiếc thuyền lơ lửng bên một cây cầu với những cành cây phong khẳng khiu, lá đỏ rụng buồn xơ xác, một đốm lửa chài chập chờn leo lắt ... thì chắc chắn không cần phải có một tâm hồn thi-nhân mới cảm thấy bâng khuâng xao xuyến để mà "sầu miên " được hay sao ? Và nếu hòn núi đó không có cái tên "Sầu Miên" và có một cái tên khác sáng chói hơn, rực rỡ hơn ....chẳng hạn như ngọn núi có tên "bồng tiên" (bồng lai tiên cảnh ,một nơi chốn, cỏ cây xanh tươi tốt, đàn ca vui vẻ) hoặc có cái tên thật bi đát như "trường miên" (ngủ luôn = chết) v.v.." thì hỏi thử nhà thơ Trương Kế có đem tên hòn núi đó vào thơ hay không ???Nếu chúng ta lạc lõng vào thế giới Thơ, thì có lẽ không ai bắt buộc "cụ thể" không được đi đôi với "trừu tượng", chúng ta thử đọc 4 câu thơ thể loại mới sau :

"Đối diện đêm là núi sầu bất tận
Chỗ tim tôi, máu chảy ngược khơi nguồn
Nơi yên vắng chốn đi về ẩn mật
Tình lênh đênh trên sóng nhớ, biển cuồng "

Những chữ "núi , sóng , biển " là những chữ "cụ thể" nhưng đã đem lại cho người đọc tưởng tượng và hình dung được những cái "trừu tượng" như "sầu" chất ngất như "núi", nỗi "nhớ" vời vợi như sóng cao và cái "cuồng" nhiệt mênh mang, bập bềnh, và triền miên như biển rộng .Cũng như trong một bài Đường-thi Y CHÂU CA của Vương-Duy có 4 câu:

"Thanh phong minh nguyệt khổ tương tư
Đãng tử tùng nhung thập tải dư
Chinh nhân khứ nhật ân cần chúc
Quy nhạn lai thì số phụ thư "

"
Trăng thanh, gió mát, muôn trùng nhớ
Chinh chiến mười thu vắng bóng chàng
Một thuở người đi còn nhắn lại
Nhạn về xin gửi cánh thư sang"

 Hải Đà phỏng dịchNhững hình ảnh cụ thể như Trăng (thấy được) , Gió (cảm nhận được) đã đưa đến một sự "trừu tượng" là "khổ tương tư" (nhớ nhau da diết) . Một đêm trăng giữa trời đêm mênh mông bát ngát và cơn gió hiu hiu thổi làm chạnh lòng tê tái người thiếu phụ nhớ chồng đi lính đồn xa một cách tha thiết và trữ tình, trong một trạng thái "tương tư ", nếu cụ thể đối với cụ thể, thì chẳng lẽ phải đem ra một giả-thuyết là có trăng thanh, gió mát, trên một con sông có tên là "Tương Tư " ? Những hình ảnh trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc : chiếc cầu quạnh quẽ với hàng cây phong cô liêu, lập lòe ánh lửa chài , mà chẳng mang lại sự sầu cảm nhập vào cõi mơ của người "đối" diện với những cảnh vật buồn não nuột và hiu hắt này hay sao ?
Theo Hán-Việt Tự-Điển của Đào-Duy-Anh Chữ "Đối" có nhiều nghĩa như :đáp laiï, ứng với (cùng với) , thành đôi (cặp đôi), bằng ngang nhau, hợp với, xoay về ...Từ ngữ Hán rất phong phú và đa dạng trong việc giải thích cái nghĩa, cần phải dựa vào nguyên văn cả bài thơ, ví dụ có những thành ngữ hán-việt như : "Đối hoa huy lệ" = trước cành hoa mà gạt nước mắt ( đa sầu đa cảm vì nhìn cánh hoa), "Đối thiên phát thệ" = đối với trời nói lên lời thề (người có niềm đau riêng)....
Trong bài thơ "Nguyệt Hạ Độc Chước" (Dưới Trăng Uống Rượu Một Mình) của Lý-Bạch , có 4 câu như :

Hoa gian nhất hồ tửu
Độc chước vô tương thân
Cử bôi du minh nguyệt
Đối ảnh thành tam thân ....Giữa hoa một bầu rượu
Khề khà chỉ mình ta
Nâng ly mời trăng tỏ
Với bóng nữa thành ba

(Chữ "đối" có nghĩa là "cùng, với" , giữa 2 cái cụ thể là "ta, trăng" cùng với cái trừu tượng là "bóng")Dẫn chứng ngọn núi "Sầu Miên" bằng bức tranh ....cũng chỉ là sản phẩm tưởng tượng của người họa sĩ mà thôi vì "Tranh chỉ là ... Thơ không lời ". Thành Cô Tô trong câu thơ thứ 3 cũng chính là một dãy núi rồi . Trong 4 câu thơ ngắn ngủi và nổi tiếng này nếu Trương Kế đem hết vào 4 địa-danh cụ thể đối chọi với nhau thì đâu còn cái cảm xúc chân thành của "hồn" thơ nữa !
Cũng bàn về sự vật cụ có thể dẫn dắt đến cái trừu tượng là sự tưởng tượng , chúng ta hãy thưởng ngoạn hai câu thơ của Đỗ Phủ như trăng lồng nước, như bóng trong gương sau đây , thực mà hư, hư mà thực:

"Hương vụ vân hoàn thấp
Thanh huy ngọc tí hàn"
(Sương thơm mây thẫm ướt
Ánh xanh ngọc lạnh lẽo"

Mới đọc ta chúng ta chỉ nghĩ đây là những hình ảnh cụ thể, đâu có gì thâm thúy và sâu sắc, nhưng thật ra nhà thơ Đỗ Phủ đã dùng hình ảnh cụ thể chỉ để nêu lên cái hình ảnh "trừu tượng" khác ẩn hiện trong trí tưởng tượng của ông mà thôi là hình ảnh "mây" là "tóc mây" , hình ảnh "ngọc" là "tay ngọc" của hiền-thê Ông trong một đêm nhìn trăng nhớ chồng đi xa .
Từ những sự thể nhỏ bé ở trong cái không gian bao la của vũ trụ ( bầu trời đầy sương xem như cõi vô tận), nhờ có một tâm hồn thơ, một tinh thần ung dung tự tại, thi-nhân mới có thể cảm nhận và chiêm nghiệm và từ đó đưa đến và hình thành những câu thơ vi diệu và độc đáo , chi phối mãnh liệt tâm hồn người đọc, và dẫn dắt người đọc thơ đi "dạo" chơi giữa cái lâng lâng vô cùng ... mà không hề hay biết ...
"Thiên địa vô cùng cực, nhân mệnh nhược triêu sương (Tống Ưng Thị của Tào Thực )
(Đất trời vô cùng tận, kiếp người tựa sương mai)Một đặc trưng khác của thơ Đường là "thiên, địa, nhân" nối kết và liên hợp và con người chỉ muốn hòa nhập, gắn bó mật thiết vào không gian và thời gian diễn tả trong bài thơ mà chúng tôi đã đề cập ở trên .
Nếu cụ thể phải đối với cụ thể thì làm sao nẩy sinh ra những câu thơ rất là trừu tượng và mơ hồ từ những cảnh trước mặt như :

"Tôn lý ngộ phong vũ
Song tiền động ba đào"
(Trong chén rượu gặp gió mưa
Trước cửa sổ động sóng dữ)

hoặc những ẩn dụ hay ám chỉ mơ hồ:
"Thuyền tại hải thượng canh vân"
(Thuyền cày trên biển cả)

Đi vào cõi thơ là những bước chân hụt hẫng chênh vênh giữa tịnh và động, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa xác thực và mơ hồ...... "

 

VĂN*THƠ* NHẠC* SƯU KHẢO
HTTP://WWW.VUONGHAIDA.NET
Bạch Cư Dị
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hoa Khổ Đau
Hải Đà biên soạn và tuyển dịch
Nhạc: MaiĐứcVinh,HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy,MinhThao, PhạmAnhDũng,NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Phượng Nở Trong Thi Ca
Hải Đà - Vương Ngọc Long
Xuân Về Nhớ Lại Cảnh Tình Xưa
Nhạc: Võ Tá Hân
Thơ Vương Ngọc Long
DVD KARAOKE
1.jpgHNV.jpgdhdk2.jpghdnn.jpg