Bản dịch của các thi hữu
Nhạc: Mai Ðức Vinh
Tình Ca Mai Ðức Vinh
Phổ Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc Nguyễn Đăng Tuấn
Thơ Vương Ngọc Long
Nhạc: MaiĐứcVinh, HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy, MinhThao, PhạmAnhDũng, NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Nhạc Mai Đức Vinh
Ca sĩ Bảo Yến trình bày

Article Index

GIANG PHONG" CÓ PHẢI LÀ TÊN CỦA HAI CÂY CẦU ?

Cũng trong bài viết của tác giả trong NS Y-Tế 8-2001, có đề cập đến một đoạn văn của Thi Sĩ Tiểu Quỳnh : "theo lời thuật lại của các tăng-lão của chùa này thì hai chữ "giang phong" trong câu "Giang Phong ngư hỏa đối sầu miên ", chữ Giang chỉ Giang-Thôn-Kiều và chữ Phong chỉ Phong-Kiều là hai cầu ở phía Đông và Tây , nay vẫn còn, bắt qua con kinh trước chùa, cách xa nhau lối 100 thước, đều là cầu vồng cao, dưới cầu có một hang để ghe thuyền qua lại " (tác giả dẫn chứng bài "Đàm Cổ Luận Kim Hàn-Sơn-Tự" viết trong tạp chí Trung-Hoa Kiến-Thiết số 6-1983) . Theo một tài liệu khác, dưới đề mục Những Sự Kiện và Giai-Thoại Cũ đã bàn về sự kiện là có hai cây cầu ở Giang Phong (Maple River) đối diện với chùa Hàn-San. Ở phía Bắc là Cầu Phong = Phong Kiều (Maple bridge) và phía Nam là Cầu Làng = Thôn Kiều. Sự khác biệt giữa hai chữ phong (maple) và thôn (village) đã đưa đến sự diễn-giải khác nhau về bài thơ nầy . Nhiều ý-kiến khác nhau , nhưng đến nay cũng chưa có một kết luận cụ-thể nào cả. Hơn nữa, tác giả Wang Zhi-fang trong một cuốn sách luận bàn về Thơ có trích lời của tác-giả Yang-Xiu : Thành phố cổ Giang Tô (SuZhou), nơi có ngôi chùa Hàn-San, trong thuyền tôi nghe tiếng chuông chùa như trong bài thơ đường của Trương Kế . Như vậy có người bàn rằng có sự khác biệt về nơi chốn (không gian) là ở gần thành Cô To â(by the city) hay ngoại thành Cô Tô (outside the city) . Nhiều sự giải thích khác nhau, nhưng cũng không ảnh hưởng gì đến bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc đã được quần chúng chập nhận là đúng như bản ghi ở trên ."
(Past Events and Anecdotes - Various Versions of The Poem "Night Anchorage at Maple Bridge: The fact is that there are two bridges over the Maple River opposite to Han Shan Temple. The northern one is Maple Bridge and the southern one Village Bridge. The difference between "maple" and "village" would produce different interpretation of the poem. As opinions vary, no unanimous conclusion can be drawn thus still. Furthermore, Wang Zhi-fang quoted in his "On Poetry" what was said by O Yang-xiu "There is ‘By the ancient suzhou city lies Han Shan Temple, At midnight I hear in my boat its bell’ composed by a Tang poet." Then there is also difference between "by the city" or "outside the city". Various versions as there have been, anyway, they still make no influence upon the generally accepted one at present.)
(trích dẫn :http://www.sz.js.cn/english/culture/custom/past/past15.htm
)
Lẽ đó, theo những tài liệu và dữ kiện mô tả dẫn thượng, về địa lý địa danh, thi sĩ Tiểu Quỳnh đã dẫn chứng rằng có hai cây cầu ở gần chùa Hàn Sơn là rất đúng, và thật ra tên của hai cây cầu nầy là "Phong Kiều" và"Thôn Kiều"; nhưng mặt khác, chữ"Giang Phong" theo cái nghĩa trong bài Phong Kiều Dạ Bạc mà các học-giả nhà Nho Việt Nam gọi là "dòng sông có cây phong " (bến phong) rất là chính xác đúng ý đúng nghĩa, duy chỉ còn vấn đề mà người ta thường bàn cải là tác-giả Trương Kế khi cảm tác bài thơ nầy là nằm trên thuyền ở bến "Phong Kiều" hay " Thôn Kiều" mà thôi (không có cầu nào gọi là "Giang Thôn Kiều" ). Nhưng dù ở cầu nào chăng nữa thì cái gợi cảm của bài thơ không phải là địa-danh của cây cầu mà chính là những hàng cây phong lá đỏ úa báo hiệu một mùa thu chuyển mùa (thời-gian của bài thơ) và tiếng chuông chùa ngân vang nửa đêm. Cái người ta bàn cãi là bàn cãi về đề tựa của bài thơ là "Phong Kiều Dạ Bạc" hay "Thôn Kiều Dạ Bạc" mà theo quần chúng cũng như các nhà nghiên cứu văn-học-sử Trung Quốc thì họ vẫn chấp nhận cái nơi chốn không gian đúng của bài thơ nầy là ở bến Phong Kiều mà thôi. Sỡ dĩ có sự tranh cãi vì chữ Phong (cây phong có tên khoa-học Liquidambar formosana ) .... và chữ Thôn (làng) trong chữ Hán nét viết gần giống nhau, chữ khắc trên đá do sự xoi mòn của thời gian nên bộ chữ bên phải hơi bị mờ nên mới có sự "tam sao thất bổn" gây ra ngộ nhận nầy ....
(Another difference is between "maple" and "village". When inscribing the poem "Night Anchorage At Maple Bridge", Yu Yue wrote in its postscript, "Originally, there was the poem of ‘Night Anchorage At Maple Bridge’ written by Wen Dai-zhao. While so long as it was, the characters have become dim. In 1906, the minister Zhong Cheng had several pillars built in the temple and entrusted me to make the inscription." At the back of the slabstone there is also an appendix---the poem ‘Night Anchorage At Maple Bridge’ of Zhang Ji in Tang dynasty has been enjoying great popularity. )

Thêm MỘT BÀI THƠ nói về Chùa Phong Kiều Vào đời Tống, có thi-sĩ Tôn-Định khi đi ngang qua bến Phong Kiều này cũng cảm hứng làm một bài thơ cũng với nội dung tương tự như thế :

QUÁ PHONG KIỀU TỰ

Bạch thủ trùng lai nhật mộng trung
Thanh sơn bất cải cựu thời dung
Ô đề nguyệt lạc kiều biên tự
Ỷ trẩm do văn bán dạ trung

(Tôn Định - Đời Tống)

GHÉ QUA CHÙA PHONG KIỀU

Tay trắng hoàn tay giấc mộng suông
Cảnh xưa sắc núi mãi xanh cùng
Quạ kêu, trăng lặn, bên chùa vắng
Tựa gối, đêm nằm, vẳng tiếng chuông
(Hải Đà phỏng dịch)
BẢN DỊCH ANH NGỮ CỦA VĂN-THI-SĨ TRUNG HOA TRÊN LIÊN MẠNG

1- NIGHT MOORING AT MAPLE BRIDGE
The moon descends, and crows cry in the frost-filled sky.
I gaze at the riverside maples and fisherman's light in melancholy sleeplessness,
Then, outside the town of Suzhou, the night bell of Han Shan Temple,
Reaches as far as my boat.
(http://www.apec2001fm.gov.cn/suzhou/e-suzhou/suzhou.htm
)

2- ANCHORING AT NIGHT BY THE FENGQIAO BRIDGE
The moon sets and crows crow in a frosty sky,
the fisherman dozes off by his fishing light at the Feng Bridge;
the bell in Hanshan Temple on the outskirts of Suzhou chimes,
and arrives the passenger boat at midnight
(http://www.shanghai-rr.com/e-shrr/surround%20areas/main-3.htm
)

3- A NIGHT'S MOORING AT THE MAPLE LEAF TREE
Moon sets, crows cry and frost fills all the sky;
By maples and boat lights, I sleepless lie.
Outside Suzhou Hanshan Temple is in sight;
Its ringing bells reach my boat at midnight.
(http://www.chinapage.org/poet.html
)

4- OVERNIGHT STAY AT FENG QIAO
The moon goes down and in frost-filled air rings crow's cry,
Sleepless, in the shadow of riverside maples, I stare at the fisherman's lantern.
Away from the town of Suzhou stands Han Shan Temple,
The chime of its mid-night bell reaches as far as my boat."
(http://202.84.17.73/english/temple12.htm
-Xinhua News Services)

5 MOORING FOR THE NIGHT AT FENGQIAO BRIDGE
The moon goes down, crows cry under a frosty sky,
Dimly lit fishing boats' neath maples sadly lie.
Beyond the Suzhou walls the Temple of Cold Hill
Rings bells, which reach my boat, breaking the midnight still.
(http://www.chinatour1.com/Jiangsu.htm
-Jiangsu)

6- NIGHT-MOOR AT MAPLE BRIDGE
Moon set, crows caw, frost fills the sky
River maples, fishing fires, drowsing in sorrow
Outside Gusu City, the Cold Mountain Temple
At the midnight bell, arrives the visitor's boat
(Zhang Ji)

7- A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE
While I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing for me, here in my boat, the midnight bell.
(Witter Bynner) Ngoài 1 bản dịch của tác-giả người Mỹ (bản dịch số 7), các bản dịch khác kể trên (6 bản) đều của các văn-thi-sĩ Trung Quốc, người bản xứ và chắc chắn là thông-hiểu ngọn ngành gốc tích ngôn ngữ của họ, giới thiệu phong cảnh du-lịch của ngôi Chùa Hàn Sơn (Cold Mountain = Núi Lạnh ?) này, chúng tôi không thấy có một bản dịch nào đã đề cập và giải thích "hai cây cầu" hoặc một ngọn núi có tên là "Sầu Miên" như trong bài "Giang Phong và Sầu Miên" đã đăng trên NSYT 8-01.Có một ghi chú cần phải nhắc đến là trong China The Beautiful : Readers' Discussions, Comments & Inquiries - Subject : A Night-Mooring Near Maple Bridge, thi-sĩ Julian Yiu không đồng-ý với câu số hai của bài dịch 3 Under the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch, có nêu ra một giả thuyết chưa được chứng minh là có ngọn núi tên là "Sầu Miên" Và trong trường hợp nầy có thể dịch là The Maples leaves are red as fire; I sleep facing the Sau Min mountain. Nhưng chính thi-sĩ Julian Yiu đã đề-nghị và thích câu dịch này hơn The Maples leaves are red as fire; I sleep with loads of sadness. (I prefer this interpretation as it is more poetic - Julian Yiu) . Ngọn núi có tên là Sầu Miên chỉ là một giả thuyết tưởng tượng, không nghiêm chỉnh và lịch sử và địa-lý Trung-Hoa không ghi chú tên ngọn núi này ngoài tên ngọn núi Hàn Sơn ( được dịch là Cold Mountain ?), là nơi danh-lam thắng cảnh đã thu-hút rất nhiều du-khách ngọai quốc đến thăm viếng hàng năm .
NHỮNG BÀI THƠ DỊCH VIỆT NGỮ CỦA CÁC THI-SĨ MUÔN PHƯƠNG

Bản dịch Tản Đà :
Trăng tà tiếng quạ kêu sương
Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền ai đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

Bản dịch Trần Trọng Kim :
Quạ kêu trăng lặn sương rơi
Lửa chài cây bãi đối người nằm co
Con thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

Bản dịch Ngô-Tất-Tố:
Quạ kêu sương tỏa trăng lui
Đèn chài cây bến đối người nằm khô
Chùa đâu trên núi Cô Tô
Tiếng chuông đưa đến bên đò canh khuya

Bản dịch Phạm Khắc Trí:
Bài 1:
Quạ kêu, trăng lạc, sương mờ,
Hàng cây phong ngủ bên bờ sông xưa,
Lửa chài leo lét đong đưa,
Nửa khuya, vẳng tiếng chuông chùa... mù khơi.
Bài 2:
Trăng lẩn, quạ kêu, sương mênh mông,
Đốm lửa chài xa lạc bến Phong,
Nửa đêm thanh vắng, trong thuyền khách,
Vẳng tiếng chuông khuya... những não lòng.
Bài 3:
Trăng lẩn, quạ kêu, trời đầy sương,
Ánh lửa chài xa quyện vấn vương,
Hàng cây phong ngủ bên bờ vắng,
Văng vẳng chuông khuya vỗ mộng thường.


Bản dịch Phạm-Vũ Thịnh
Đêm Neo Bến Phong Kiều
Bài 1:
 
Trăng tà quạ rúc trời đầy sương
Cây im lửa đóm người nằm suông
Cô Tô bến lặng đêm già nửa
Chùa cổ Hàn Sơn vẳng tiếng chuông
Bài 2:
Trăng tà quạ rúc trời sương
Cây im lửa đóm nằm suông hững hờ
Nửa đêm neo bến Cô Tô
Hàn Sơn vẳng tiếng chuông chùa buồn tênh


Bản dịch Vương Uyên
Bài 1:
Trăng khuất quạ kêu trời phủ sương
Lửa chài bến nước cõi sầu vương
Cô Tô đêm vắng thuyền ai đậu
Tĩnh lặng Hàn San vọng tiếng chuông

Bài 2:
Trăng tàn sương phủ quạ kêu
Lửa chài, bến nước, dệt thêu mộng sầu
Cô Tô tĩnh mịch đêm thâu
Hàn San chuông điểm thuyền câu lặng tờ

Bản dịch Ngọc Ẩn - (Tokyo 2001)
Quạ kêu, trăng lặn, sương mù
Đêm nằm không ngủ, cây ru lửa chài
Cô Tô đậu chiếc thuyền ai
Nửa đêm vọng tiếng chuông dài Hàn Sơn

Bản dịch Bùi Khánh Đản:
Trăng lặn sương mờ nghe tiếng quạ
Lửa chài cây ánh giấc chưa yên
Cô Tô bên mái Hàn sơn tự
Đêm muộn chuông ngân vẳng đến thuyền

Bản dịch Trần Trọng San :
Quạ kêu trăng lẩn sương trời
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa Hàn Sơn đến thuyền sông Phong Kiều

Bản dịch Nguyễn Thế Nữu:
Quạ kêu, trăng lặn, trời đầy sương
Phong bến, lửa chài, sầu mộng vương
Chùa ngoại thành Tô, trên núi Lạnh
Nửa đêm thuyền khách nằm nghe chuông

Bản dịch Đinh-Vũ-Ngọc :
BAN ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU
Quạ kêu, Sương phủ, Trăng thâu
Lửa chài, Cây bến lặng sầu trong mơ
Cô Tô, Chùa vắng khuya mờ
Tiếng chuông tìm viếng khách thơ trong thuyền

Bản dịch Ngô-Văn-Phú:
ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU
Quạ kêu, trăng xế ngang đầu
Lửa chài cây bến gối sầu ngủ mơ
Thuyền ai ngoài bến Cô Tô
Nửa đêm lạnh tiếng chuông chùa Hàn san ....

Bản dịch Lê-Nguyễn-Lưu:
Sương mờ, quạ giục ánh trăng phai
Cây bến sầu mơ ngọn lửa chài
Ngoài ngõ Cô Tô chùa núi Lạnh
Nửa đêm chuông vọng tới thuyền ai

Bản dịch Ái Cầm:
THUYỀN ĐẬU BẾN PHONG KIỀU
Quạ kêu trăng khuyết trên cành sương
Đốm lửa hắt hiu giữa đêm trường
Cô Tô thuyền đỗ sầu in bóng
Hàn Sơn Chùa vọng tiếng chuông ngân
Trăng khuyết trên cành sương quạ kêu
Lửa chài sông quạnh bến cô liêu
Cô Tô thuyền đậu trong đêm vắng
Chuông Hàn Sơn động sóng đìu hiu


Bản dịch Nguyễn Khuê:

Trăng lặn quạ kêu trời phủ sương
Lửa chài cây bến giấc sầu vương
Chùa Hàn ngoài ải Cô Tô vắng
Thuyền khách đêm khuya vẳng tiếng chuông

Bản dịch KD:

Trời sương, trăng lặn, quạ kêu luôn
Ngủ đối cầu phong lửa cá buồn
Thuyền đậu thành Tô chùa núi Lạnh
Nửa đêm chuông nện tiếng boong boong

Bản dịch Nguyễn Hà:
Tiếng nhạn kêu sương, nguyệt cuối trời
Bờ phong sầu hắt lửa thôn chài
Hàn sơn chuông vẳng Cô tô lại
Khuya khoắt lay thuyền động giấc ai

Bản dịch Nguyễn Hùng Lân:
Trăng tà quạ gọi sương lên
Bờ cây chài lửa đôi bên giấc sầu
Chùa Hàn San giữa đêm thâu
Tiếng chuông thành ngoại đưa vào thuyền nhân

KẾT LUẬN:

Bằng những dữ kiện và tài liệu mô tả dẫn thượng mà cụ thể nhất là những bài thơ dịch qua Anh-ngữ của các thi-dịch-giả Trung Quốc đối chiếu với những bài dịch Việt-ngữ của các thi-dịch-giả Việt Nam, chúng ta hiểu được phần nào ý nghĩa của hai chữ Giang Phong và Sầu Miên trong bài Đường thi Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế .
Nhừng nghi vấn:
-hai chữ "Giang phong" không phải là Sông với Cây Phong ( erable) mà tên của hai cây cầu.
-hai chữ "sầu miên" thì không phài là Buồn và Ngủ mà là tên của một hòn núi
đã dựa trên một giả thuyết tưởng tượng được mô tả như thiếu nghiêm chỉnh , không những trái với căn bản Hán tự, lịch sử địa lý Trung hoa mà còn ngược lại với đặc trưng Thiên Địa Nhân cũng như cái Tịnh, cái Động của Đường thi trong tinh thần thơ không phải là ngôn ngữ của "khoa học" (một cộng với một là hai ) mà thơ là nguồn tinh-khôi của cảm nhận và ý tưởng hòa đồng...Các học giả của Trung Quốc mà đọc được chữ Việt chắc chắn phải thán phục các nho gia Việt Nam chúng ta đã hiểu rành mạch xuất xứ và ý nghĩa của bài Phong Kiều Dạ Bạc nên đã tài tình và dịch đúng nghĩa đúng ý như những văn-thi-sĩ bản xứ Trung Hoa đã dịch bài thơ này ra Anh-ngữ .

Hải Đà ( tháng 8 năm 2001)

PHONG KIỀU DẠ BẠC

Thơ phóng tác : Vương Ngọc Long
(Phong Kiều Dạ Bạc - Trương Kế)
Nhạc: Mai Ðức Vinh
Hòa Âm : Quốc Dũng
Ca Sĩ : Tấn Ðạt

Cầu phong quạnh quẽ lá vàng rơi
Một chiếc thuyền con lặng lẽ trôi
Đất lạnh sương rơi mù mịt phủ
Cảnh buồn lữ khách dạ chơi vơi

Thu nhuốm rừng phong lá võ vàng
Hồn thơ trăn trở giấc hoang mang
Hàn Sơn phảng phất nhang trầm ngát 
Ai thấy người thơ luống ngỡ ngàng …

Lạc lối đường mây lấp lánh sao
Thanh tiêu réo rắt vọng trời cao
Dáng thu bỡ ngỡ rừng thao thức
Gió bỗng xôn xao bến trúc đào

Tiếng quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm điểm hồi chuông khách sững sờ ...

Huyền ảo trời mây lác đác sương
Mênh mang sóng nước dạt vô thường
Tiếng chuông rền rĩ ru hồn mộng
Thi tứ  dâng trào bát ngát hương

 

  

 

 

VĂN*THƠ* NHẠC* SƯU KHẢO
HTTP://WWW.VUONGHAIDA.NET
Bạch Cư Dị
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Hoa Khổ Đau
Hải Đà biên soạn và tuyển dịch
Nhạc: MaiĐứcVinh,HuỳnhCôngTrứ, LêMạnhTrùy,MinhThao, PhạmAnhDũng,NguyễnTuấn.
Hải Đà-Vương Ngọc Long
Phượng Nở Trong Thi Ca
Hải Đà - Vương Ngọc Long
Xuân Về Nhớ Lại Cảnh Tình Xưa
Nhạc: Võ Tá Hân
Thơ Vương Ngọc Long
DVD KARAOKE
1.jpgHNV.jpgdhdk2.jpghdnn.jpg